THIÊN ÂM

1. NGUYÊN TẮC TRỞ VỀ TỰ TÁNH:
Quá trình trở về với tự tánh là một quá trình đầy cam go và thử thách. Kiến thức của thế gian không cho ta cái nhìn về Vô Ngã. Vật chất tiện nghi đầy đủ không là cứu cánh cho ta trên con đường đạo. Con đường đưa tâm trở về nhà là quá trình lội ngược dòng nước, đi ngược lại không gian, ví như cỡi tia nắng trở về với mặt trời, từ bỏ hết tất cả các ảo tưởng của thế gian, đi ngược lại các truyền thống – các thói quen mà xã hội loài người tạo dựng nên.
Đạo tiên cũng thế, từ vạn pháp muôn trùng thu về 64 quẻ, từ 64 quẻ thu về bát quái, bát quái thu về tứ tượng, tứ tượng thu về lưỡng nghi, lưỡng nghi thu về thái cực và cuối cùng từ thái cực trở về vô cực.
Thầy tôi nói rằng: “nếu đã phát ra được thì sẽ thu về được.”
Vạn pháp do tâm sinh
Tâm diệt, vạn pháp diệt.
Cũng tâm đó ra chúng sanh. Cũng tâm đó mà thành Phật.
Chúng sanh lấy pháp làm tâm, Thánh nhân lấy tâm làm pháp. Tâm ở đây chính là trí tuệ diệu dụng của ta để chiếu phá vô minh, trừ khử hết các ô nhiễm của thế gian, lột tả hết các ảo tưởng. Nếu không trừ gốc dục vọng nơi tâm dù có được Minh Sư khai ngộ cũng chỉ là gốc dâm, gốc danh, gốc dục. Nếu lấy thân dục vọng mà cầu diệu pháp Chư Phật thì vẫn bị trôi lăn trong ác đạo. Vì thế mà các vị Minh Sư nói rằng: “người ngu dụng pháp, người trí chuyển tâm.” Người trí tuệ hiểu được sát na khai ngộ, người kém trí dụng công phu nhiều như sờ tay vào tấm thép dày nung đỏ. Chính bản thân mình nhận ra điều đó chứ không phải mong chờ sự giác ngộ từ bên ngoài đem vào tâm.
Khi vị thầy đã cho ta trực diện bản tâm không có nghĩa là giải thoát ngay tức khắc mà Ngài chỉ là người dẫn đường. Ngài cho tấm bản đồ để trở về nguồn cội. Ngài khơi gợi lại tánh không trong tâm. Các pháp cơ bản Dịch Cân Kinh, Định Niệm Hơi Thở, Thân Hành Niệm chỉ nhằm một mục đích khơi gợi tánh tịnh của tâm, vựt dậy Đại Thế Chí Bồ Tát - ý chí mãnh liệt với sanh tử. Ngộ năng là bản thể của tâm phàm tình. Tam Tạng đại diện trí tuệ. Và khi đã có đủ 4 thầy trò Đường Tăng cần có Bồ Tát Quán Thế Âm theo dõi trên suốt chặng đường trở về đất Phật. Vì trên đường đi có rất nhiều cám dỗ ma quái. Đấy chính là những ý niệm thiện, những ý niệm độc ác trong tâm, những nghiệp từ tiền kiếp, những định nghiệp hiện tại.
Pháp Nhĩ Căn Viên Thông cũng vì lẽ trên trên mà áp dụng. Nhĩ Căn Viên Thông là cách tròng vòng kim cô để giữ con khỉ đột trong tâm ngồi yên. Khi được bình yên, dòng năng lượng nguyên bản của tâm sẽ được kích hoạt, kết hợp với trí tuệ Bát Nhã ta dùng năng lượng này đốt đi các nghiệp tồn kho từ tiền kiếp, xóa 6 thức do 6 căn đối cảnh 6 trần nạp vào đại não, chỉ có năng lượng tự tánh hiện hữu. Tình quên, thức hết, ta lặng lẽ sống những ngày tháng qua. Không cần ai biết đến ta, ta cũng không cần biết đến ai. Không có cảnh khổ cũng không có cảnh vui, ta an nhiên tự tại trong tự tánh.
Định phải có Tuệ đi kèm, có Tuệ mà không Định chỉ là lý thuyết suông, là hý luận; có Định mà thiếu Tuệ cũng chỉ là những kinh nghiệm rời rạc, hời hợt, chẳng có lợi ích gì mấy.
Nhĩ Căn Viên Thông là cỗ xe, Vô Lượng Quang là bản đồ; có xe, có bản đồ, có sức khỏe tốt thì việc lái xe trở về nhà là việc không khó. 
Rõ rằng, khi được vị thầy dẫn dắt, Đại Thế Chí Bồ Tát, Phật A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát đều ở nơi tâm. Tâm chúng ta được hóa thân 3 vị ấy theo hộ trì trên suốt quá trình tu tập của quãng đời còn lại. Chúng ta thấy rõ ràng cơ hội giải thoát ngay hiện tiền chứ không phải một lời hứa hư ảo, huyễn mộng rằng ngày nào ta nhắm mắt sẽ có lực lượng A Di Đà đến rước hay có Quán Thế Âm đến cứu.
2. ÂM THANH CỦA VŨ TRỤ:
Khoa học thực nghiệm chứng minh rằng nơi nào có năng lượng thì nơi đó có ánh sáng và âm thanh. Chẳng hạn: Các đám mây tích tụ năng lượng phóng ra ánh sáng kèm theo âm thanh. Dòng điện qua tăng-phô đèn phát sáng kèm theo âm thanh. Điện thoại di động nhận năng lượng dạng sóng âm chuyển thành âm thanh, hình ảnh…
Ánh sáng và âm thanh trở thành chất liệu sống trên trái đất này. Không có ánh sáng, không có âm thanh sự sống sẽ không tồn tại.
Tai người chỉ nghe âm thanh có tần số từ 15 Hz đến 20.000 Hz. Âm thanh với tần số cao hơn được gọi là siêu âm, thấp hơn là hạ âm. Một số loài dơi phát sóng siêu âm và nghe phản xạ để xác định địa hình và chướng ngại vật trong khi bay. Chó có thể nghe được sóng siêu âm. Rắn nghe được sóng hạ âm bằng bụng. Cá voi, hươu cao cổ, và voi giao tiếp bằng sóng hạ âm. v.v...
Khoa học đã chứng minh vũ trụ được hình thành từ vụ nổ Bigbeng, vụ nổ chấn động văng ra năng lượng dưới dạng ánh sáng và âm thanh hình thành vũ trụ. Năng lượng nguyên bản tạo ra ánh sáng và âm thanh nguyên bản. Từ vô thỉ, Diệu tâm ở đó - dòng năng lượng nguyên bản của chúng ta. Nay muốn về lại ngôi nhà xưa phải đi qua âm thanh và ánh sánh – quá trình lội ngược dòng nước, cỡi tia nắng trở về mặt trời. Sự lắng nghe âm thanh nguyên bản, trở về với tự tánh, trạng thái không có đau khổ, không có phiền não được gọi là niết bàn tịnh tịch. Khi đó, dòng năng lượng của tự tánh không có sự vận động ra bên ngoài đời sống sẽ bình an, phúc lạc.
Âm thanh chính là tinh hoa của vũ trụ vì nó lan tỏa trong không gian như sóng biển. Ba cõi cũng có các âm thanh và ánh sáng riêng của nó. Các vị Minh Sư với tâm không – tâm tràn đầy với hư không - nên các Ngài nắm bắt dễ dàng năng lượng từ trường phát ra từ sóng âm; trong nhà phật gọi là lục thông. Một số ít người cũng nghe được một số âm thanh của sóng âm, giao tiếp được với các thần linh, ma, quỷ qua thể vía – những người này sanh ra đều có căn cơ riêng của họ mặc dù họ chưa tu tập gì trong đời này – gọi là nhà ngoại cảm. Chư Phật nắm bắt được cả vô thanh âm (âm thanh tuyệt đối, nghe của cái không nghe)
Vũ trụ không hề trống rỗng, mà là sự rung động không ngừng của các sóng âm hay năng lượng sẽ chuyển biến và biểu hiện thành các hiện tượng vật chất như các hiện tượng trong thiên nhiên.
3. PHÁP NHĨ CĂN VIÊN THÔNG CỦA CHƯ PHẬT:
3.1. Thuyết Nhĩ Căn Viên Thông:
Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, phần trình tu chứng của 25 vị Bồ tát, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát nói rằng: “Có đức Phật ra đời hiệu là Quán Thế Âm. Ở trước đức Phật ấy, con đã phát tâm bồ đề. Ngài dạy con do từ văn, tư, tu mà nhập tam-ma-địa. Ban đầu, con ở trong tánh nghe mà được vào dòng, mất tướng sở-văn. Chỗ vào đã vắng lặng, hai tướng động và tĩnh rõ ràng không sinh. Cứ như thế mà tăng tiến dần, cả năng-văn và sở-văn đều mất hết. Ngay chỗ này con vẫn không dừng lại, mà tiến lên thêm nữa, đến chỗ năng-giác và sở-giác cũng đều không. Rồi cả hai ý niệm “năng- văn, sở-văn”và “năng-giác, sở-giác đều không”đều bị dứt trừ trọn vẹn; năng-không và sở-không hoàn toàn tiêu mất. Sinh diệt đã tiêu vong thì cảnh giới tịch diệt hiện rõ trước mắt.
Phật Thích Ca bảo Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi xem xét trong hai mươi lăm pháp tu đó, pháp tu nào hợp với căn cơ của A Nan và chúng sinh tu tập theo hạnh Bồ-tát mà cầu đạo Bồ đề Vô thượng, thì pháp môn nào nên dùng?
Ngài Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi xem xét về 25 pháp môn và chọn ra pháp môn Nhĩ Căn Viên Thông là thù thắng nhất:
Muốn chứng tam-ma-đề, thật nên dùng tánh nghe.
Lành thay, Quán Thế Âm! Tánh nghe bản lai vốn viên mãn, không vọng, không hư dối. Mắt nếu bị ngăn che không thể thấy thông suốt, miệng, mũi cũng như vậy, thân có chạm mới biết, ý niệm luôn lăng xăng ngổn ngang không đầu mối!
Tai cách tường vẫn nghe, xa gần đều nghe được, năm căn không sánh bằng cho nên biết tánh nghe bản lai vốn thông suốt, không vọng không hư dối. Tiếng có động có tĩnh, nghe lúc có lúc không, không tiếng gọi không nghe, chẳng phải không tánh nghe. Trong lúc không có tiếng tánh nghe vẫn không diệt, trong lúc đang có tiếng tánh nghe cũng không sinh. Như thế là tánh nghe lìa cả sinh và diệt, dầu cho trong lúc ngủ ý thức không nghĩ suy nhưng không phải vì vậy mà tánh nghe chẳng có, cho nên biết tánh nghe vượt ngoài sự suy nghĩ, thân tâm không sánh bằng. Chúng sinh mê muội không thấu đạt tánh nghe, chỉ bám theo thanh trần cho nên mãi lưu chuyển!
Tôi nương uy lực Phật tuyên nói pháp Tam-muội cứng chắc như kim cương như-Huyễn Tam-ma-đề thật không thể nghĩ bàn. Xoay nghe nghe tự tánh thoát li khỏi thanh trần. Nghe đã thoát thanh trần tên gọi cũng không có. Một căn đã về nguồn, sáu căn đều giải thoát.
Hãy trừ bỏ cái nghe bám thanh trần điên đảo. Hãy xoay lại cái nghe quay về nghe tự tánh, tánh thành Đạo Vô Thượng. Đó thật là pháp môn.
Kẻ sơ tâm nương vào để tu chứng viên thông.  Đó là con đường thẳng mà Chư Phật mười phương tiến vào cửa Niết Bàn. Chư Phật đời quá khứ đã thành tựu pháp này. Chư Bồ-tát hiện tại cũng nương pháp môn này nhập cảnh giới viên minh. Và ở đời vị lai, những người tu học Phật cũng theo pháp môn ấy chẳng riêng Quán Thế Âm. Tôi cũng trong pháp ấy mà tu chứng viên thông.
Thật như lời Thế Tôn hỏi con các phương tiện dùng để cứu chúng sinh ở thời kì mạt pháp, người muốn cầu xuất thế thành tựu tâm niết bàn thì phương tiện “nhĩ căn” của Bồ Tát Quán Âm là siêu việt hơn hết. Còn các phương tiện khác đều nhờ oai thần Phật khiến gặp được cơ duyên mà thoát bỏ trần lao không phải là pháp tu lâu dài cho mọi người, cũng không thể cùng lúc nói cho người căn cơ sâu, cạn không đồng nhau.
Người tu pháp môn này tỏ ngộ, không mê hoặc. Phương tiện kẻ sơ tâm tu dễ dàng thành tựu! Đây quả là pháp môn hợp cơ thầy A Nan cùng chúng sinh đời sau chỉ cần tu “nhĩ căn”mau chứng được Viên Thông hơn các pháp môn khác. Yếu quyết tu Chân Tâm.
Chỉ như vậy mà thôi!
Phật đã ấn chứng, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi đóng triện rằng mười phương Chư Phật thành tựu cũng nhờ pháp môn này, Chư Bồ-tát cũng thành tựu từ pháp môn này, Phật thích Ca cũng tu từ pháp môn này và đời mạt pháp chúng sanh cũng tu pháp môn này mà thành Phật, tu pháp môn này mà giải thoát. Pháp môn này tự tu, không cần tha lực. Các pháp môn khác không phải là pháp tu lâu dài cho mọi người.
Trong Kinh Pháp Hoa – Phẩm Phổ-Môn Phật cũng đã nhắc lại cho đại chúng nghe về cách tu của Bồ Tát Quán Thế Âm  trong đó có đoạn:
Diệu âm, Quán Thế âm,
Phạm âm, Hải Triều âm,
Thắng bỉ thế gian âm,
Thị cố tu thường niệm
Thời mạt pháp, ta muốn tu pháp môn này thành Phật để giải thoát thì cần có  vị Minh Sư hướng dẫn. Người sẽ dẫn dắt ta đi lên nghe các tần âm thanh của vũ trụ như: Phạm Âm, Hải Triều Âm, Thắng Bỉ Thế Gian Âm, Lôi Chấn Âm… Các âm thanh này phải dùng tự tánh mà nghe chứ không phải nghe bằng tai. Xoay nghe tự tánh (nghe bằng linh thể) thoát khỏi thanh trần.
3.2. Các đẳng cấp của pháp môn Nhĩ Căn Viên Thông:
·     Đẳng cấp thứ nhất: Dứt dòng nghe bên ngoài, đưa dòng nghe vào bên trong. (từ văn, tư, tu mà nhập tam-ma-địa.  Ở trong tánh nghe mà được vào dòng, mất tướng sở-văn. Chỗ vào đã vắng lặng, hai tướng động và tĩnh rõ ràng không sinh.)
Minh Sư sẽ từng bước dẫn dắt ta lắng nghe các tầng âm thanh nguyên bản của vũ trụ. Đó là các tiếng Phạm Âm, Hải Triều Âm, Thắng Bỉ Thế Gian Âm, Lôi Âm …
Tiếng Phạm Âm là dòng âm thanh cơ bản nhất của vũ trụ. Chỉ mới âm thanh này thôi, các ảo tưởng thế gian dần dần được lột tả. Khi ấy, dòng năng lượng của vũ trụ được Minh Sư câu thông với dòng năng lượng của tự tánh đi qua rảnh chân không của 2 bán cầu đại não tạo ra tiếng Phạm Âm. Âm thanh này giống như ta đang sạc bình điện ắc quy tạo ra âm thanh.
Dòng năng lượng của cơ thể chạy lên não không qua 2 bán cầu đại não mà tập trung ở khoảng chân không giữa 2 bán cầu, nó hòa chung với năng lượng của vũ trụ được Minh Sư câu thông. Các tế bào trong bán cầu đại não chủ về ý thức không nhận được năng lượng nhưng do thói quen nó vẫn hút được một phần ít năng lượng chạy qua. Khi tập trung mạnh vào dòng âm thanh, dần dần tâm ý thức không hoạt động. Vọng tưởng cũng không, ý niệm về vọng tưởng cũng không, khối vọng tưởng cũng không. Ta bắt đầu vào trạng thái định, lúc đó bán cầu đại não hoàn toàn không nhận năng lượng. Nhưng năng lượng cũ vẫn còn lưu tồn một ít trong đại não nên ta còn ý thức ta đang nghe. Khi nhập định lâu, phần năng lượng lưu tồn này cũng hết, ta không còn ý thức của cái nghe, không còn nghe âm thanh – gọi là đại định. Thánh Phao-Lồ nói: “ta tập chết mỗi ngày” ý nói đến sự nhập định của Ngài.
Sức định ngày càng tăng, năng lượng của vũ trụ và năng lượng của tự tánh được câu thông liên tục thì âm thanh Phạm Âm sẽ trở về âm thanh với tầng âm thanh cao hơn với độ rung động nhẹ hơn gọi là tiếng Hải Triều Âm. Khi ta nhập định chỉ có tánh biết và âm thanh hay chỉ có âm thanh và tự tánh, ngoài ra không còn gì khác nữa. Niềm phúc lạc tràn ngập khắp thân tâm.
Theo khoa học thực nghiệm, khi nhập định ở mức độ cao, cơ thể ta như cỗ máy chỉ chạy rô đai. Ta đã chết về mặt ý thức. Do bản năng của sự sống, não bộ phát ra tín hiệu vực dậy để bộ não hoạt động trở lại. Nó phun năng lượng trở lại đại não tạo ra tiếng Hải Triều Âm. Khi năng lượng không chạy vào đại não, nó bị nén lại và khi va vào bán cầu đại não, nó nổ ra tạo thành ánh sáng và âm thanh vang dội, mạnh mẽ gọi là tiếng Thắng Bỉ Thế Gian Âm. Ta ở trong trạng thái nhập định hoàn toàn.
Thắng Bỉ Thế Gian Âm có nghĩa là trần gian bất thối chuyển. Cảnh trần không thể trói buộc được ta, thắng được các pháp của thế gian, không dính mắc đến trần tục, mặc dù vẫn sống trong trần thế. Trạng thái này không phải không có tư tưởng phát khởi, tư tưởng vẫn phát khởi nhưng mà do trí mà phát khởi nên không ô nhiễm. Nếu nó không phát khởi thì ta sẽ chết hoặc là gỗ đá. Tư tưởng sinh ra từ các thức liền bị ánh sáng của tự tánh đốt cháy nên không kịp phát khởi. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi nói rằng: “Xem trở lại thế gian toàn là việc trong mộng. Ma Đăng Già là mộng thì ai giữ được thầy? Như ta thấy ở đời người làm trò ảo thuật khéo làm hình trai, gái, tuy người xem thấy rõ các căn đều cử động nhưng sự thật là do một cái máy điều khiển, máy ngừng, hình đứng yên. Trò huyễn trở thành không”
Đẳng cấp thứ hai: Dứt dòng nghe bên trong. (năng-văn và sở-văn đều mất, năng-giác và sở-giác cũng đều không)
Đẳng cấp thứ hai là đẳng cấp vô tướng, không thể diễn tả bằng ngôn từ. Đến đẳng cấp này sẽ được hóa thân của vị Minh Sư Bát Nhã đến hướng dẫn ta.
Trong Kinh Pháp Hoa chỉ nói đến tiếng Thắng Bỉ Thế Gian Âm vì đức Phật nhắc chung với đại chúng có căn cơ thấp. Thật ra, còn có các âm thanh ở tầng cao hơn như Bồ Tát Quán Thế Âm đã trình bày. Đó là các âm thanh được gọi là vô thanh âm. Chỉ có tánh nghe, mất âm thanh.
Tiếng Thắng Bỉ Thế Gian Âm thu về tiếng Lôi Chấn Âm. Lôi Chấn Âm mạnh mẽ như là tiếng gầm của Sư Tử trong khu rừng già. Âm thanh của sự oai hùng lực nên thời xa xưa có vị cổ Phật tên là Oai Âm Vương – Vua của âm thanh.
Đẳng cấp thứ ba: Không của không nghe dòng nghe bên trong. (cả hai ý niệm “năng- văn, sở-văn”và “năng-giác, sở-giác đều không”đều bị dứt trừ trọn vẹn; năng-không và sở-không hoàn toàn tiêu mất)

4. NIỀM TIN PHẬT PHÁP:
Tất cả mười phương Chư Phật đều tu pháp môn Nhĩ Căn Viên Thông. 
Nếu bạn dùng đức tin để đi tìm chân lý thì chân lý càng hiển lộ. Một ngày nào đó bạn sẽ đạt giác ngộ hoặc sẽ gặp được vị Minh Sư chỉ dẫn. Đức tin ở đây là đức tin của trí tuệ chứ không phải sự mù quáng.
Nếu bạn dùng sự hiểu biết của thế gian để kiến giải, dò dẫm thì chân lý càng xa muôn dặm, phật tính càng mất đi. Ta đọc vài ba quyển kinh rồi cho ta đây là người đạt đạo, là người hiểu biết, giác ngộ phật pháp thì càng làm dày thêm nghiệp chướng. Kinh viết: “muốn dùng lời nói của thế gian để Nhập Tri Kiến Phật, đâu có thể được”.
Nếu không nhờ thầy, quyết chẳng sáng tỏ. Không thầy mà ngộ là hàng thắng học, điều ấy rất hiếm, sanh ra đã biết. Khi chưa thông rõ, siêng năng khổ học nương theo giáo pháp để chứng ngộ”.
Khi bạn còn trong vô minh muốn được sáng tỏ chân lý thì cần có vị Minh Sư hướng dẫn vì quá trình tu chứng rất phức tạp. Chỉ có lực lượng của Chư Phật khai hóa dòng tại thiên thì bạn mới có thể hiểu được nó là gì.
Các vị Minh Sư là ai? Làm thế nào để được các Ngài hướng dẫn? Đó còn tùy thuộc vào sự ra đời và do duyên nghiệp của bạn. Các Minh Sư đâu có đi dán tờ rơi hay quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đâu. Các Ngài ra đời, mọi sự đều tùy duyên.
Thời Đức Phật Thích Ca có 62 giáo phái cho là ngoại đạo, ngoại đạo không phải là tà đạo mà là ngoài con đường giải thoát. Các đạo này cũng giúp con người làm lành lánh dữ, giải trừ một số nghiệp chướng hiện thời mà không đưa đến sự thấy tánh, không vượt ra ngoài tam giới. Muốn giải thoát chỉ có con đường chánh pháp của Chư Phật, mà đại diện là pháp Nhĩ Căn Viên Thông cho đời sau.
Có rất nhiều nguồn thông tin nói về cách tu “Nhĩ Căn”. Có thông tin đúng nhưng chỉ về lý, về sự rất thấp.
Vì Ma Vương biết trước là sẽ xuất hiện vị Minh Sư  - Người có quyền năng chứ không phải nói về giáo lý trong kinh kệ - nên đã nhiễu loạn. Chúng ta phải sáng suốt đừng lầm lạc vào kế ma. Nhiều người tự xưng mình là Phật này, Thánh nọ. Chúng sanh thì u mê, nên không biết đường đi. Đến khi nhận ra thì đã muộn mất một đời.
Thời mạt pháp ma nói pháp như Phật, nhưng ma không thể làm như Phật. Thiên ma Ba Tuần: “Ta không chiến đấu lại ngươi nhưng ta sẽ nằm trong cuống sen. Sau này Chùa của ngươi sẽ là Chùa của ta, pháp của ngươi sẽ là pháp của ta, con của ngươi sẽ là con của ta.”
 Kinh viết: “lấy âm thanh, sắc tướng cầu Phật, là kẻ theo tà đạo, không thể thấy được Phật.”
Nếu tự mình sáng tỏ thì chẳng cần học. Kẻ mê trắng đen, không phân biệt rõ lại còn lếu láo tuyên lời Phật dạy, báng Phật chê pháp. Các vị ấy nói pháp như mưa: quả đó là ma nói, chẳng phải Phật nói. Thầy là vua ma, học trò là dân ma.”
 Bậc Minh Sư là người tỏ rõ 3 cõi 6 đường chứ không phải người đọc kinh kệ rồi ra hù dọa chúng sanh.
 Chân lý của Chúa Jesus và của đạo Phật:
Khi Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, gần 500 năm sau chúa Jesus mới ra đời. Chúa được Thánh Giăng truyền pháp. Nói qua bên Chúa một chút để các bạn thấy bên Chúa và Phật chỉ có một chân lý. Tuy tên gọi có khác nhau nhưng cùng một bản chất của tự tánh. Bên Chúa gọi là thánh tính, đạo Phật gọi là phật tính. Người theo đạo Phật cũng là con người, người theo đạo Chúa cũng là con người. Hễ con người đều có phật tính như nhau.
Chúa Jesus cũng nhận dòng âm thanh và ánh sáng khi Thánh Giăng truyền pháp như Chư Phật trao cho Ma Ha Ca Diếp hay Bồ Tát Quán Thế Âm trình tu chứng về Nhĩ Căn Viên Thông.
Chúa thì dùng ánh sáng và âm thanh để rửa tội. Phật dùng Vô Lượng Quang  tiếp dẫn, dùng Phạm Âm, Hải Triều Âm, Thắng Bỉ Thế Gian Âm để rửa nghiệp chướng chúng sanh.
Xin trích dẫn các câu bên Thiên Chúa để các bạn đối chiếu, soi rọi lại chân lý nhà Phật bao trùm cả pháp giới:
Chúa Jesus: “ Ta là ánh sáng, Ta là âm thanh. Các con muốn trở về nước trời hãy xuyên qua ta.
Thánh Kinh ghi nhận: “Huyền âm xuất hiện trước nhất, huyền âm ở với Thượng Đế, huyền âm chính là Thượng Đế.
Chúa Jesus đã nhắn nhủ chúng sanh đời sau rằng: "Ta đứng trước cửa các con mà gõ, gõ cho đến ngày tận thế, nếu người nào nghe tiếng ta gõ, mở cửa thì ta sẽ đem sự bình an vĩnh cửu đến trong lòng người ấy". Đời sau, nếu chúng ta có đức tin vào lời Chúa, ta lắng lòng mình, quay ngược vào trong mở cánh cửa của tâm, Chúa sẽ đem dòng âm thanh nguyên bản của vũ trụ vào trong tâm dẫn đường cho ta đi đến sự bình an vĩnh hằng.
Chúa cũng dùng âm thanh và ánh sáng của thánh tính để rửa tội. 
Các bạn đừng dùng cái tâm phàm phu của mình mà phân biệt đạo Phật hay đạo Chúa. Ví như nước sông và nước hồ, tuy ở 2 nơi khác nhau nhưng khi chảy ra biển cả đều có cùng một tính chất.  Người nào để tâm phân biệt đạo của tôi hay đạo của người kia xem như tự bít lối đi của mình, bị mắc tà kiến, bị ngã chấp che mờ lý trí.
Cái quan trọng là làm sao tìm về chân lý, tìm về sự giải thoát. 
"Vạn vật, chúng sanh đồng nhất thể"
  Muốn biết chánh đạo hay tà đạo thì các bạn chỉ cần dùng Tứ Y Pháp của Phật Thích Ca trước khi nhập Niết Bàn đã để lại cho đời mạt pháp đối chiếu sẽ rõ. Đó là: Y Pháp Bất Y Nhân, Y Nghĩa Bất Y Ngữ, Y Liễu Nghĩa Bất Y Bất Liễu Nghĩa, Y Trí Bất Y Thức.
Âm thanh của vũ trụ lúc nào cũng vang lừng cho những người tỉnh thức./.
MỜI CÁC BẠN NGHE FILE.