ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ

Đời sống của chúng ta đầy rẫy sự khổ đau. Sanh, lão, bệnh, tử là khổ. Người nghèo có cái khổ của người nghèo. Người giàu có cái khổ của người giàu. Ở cõi Ta Bà này, hễ có thân người là còn cảm thọ sự khổ đau. Khi một kẻ đã cảm nhận được nỗi thống khổ của kiếp nhân sinh, họ sẽ tìm đến con đường đạo. Sau đây, tôi xin nói đến cách nhận biết khổ đau và cách hóa giải phiền não của người tu hành.
Chúng ta đi tìm hạnh phúc trong ái dục ngắn ngủi chỉ càng thêm chất chồng phiền não, ví như cá mắc câu vùng vẫy muốn thoát ra. Vì thế, khi thành đạo dưới cội cây bồ đề, Đức Phật Thích Ca đã nói: “Ta đã diệt trừ tận gốc mọi ái dục, phiền não rồi”. Và Đức Phật đưa ra giáo pháp cho chúng sanh tu học. Về Lý, có các bài như: Tứ Diệu Đế; Bát Chánh Đạo; Thập Nhị Nhân Duyên,… Về Sự, có các pháp như: Đi Kinh Hành, Nhãn Căn, Nhĩ Căn, Thiền, Truyền Tâm Ấn, …
Nguồn gốc của sự khổ đau chính là do 6 căn đối cảnh 6 trần sinh ra 6 thức. Mắt hợp với hình ảnh, tai hợp với âm thanh, mũi hợp với mùi, lưỡi hợp với vị, thân hợp với sự cọ sát, ý hợp với tu tưởng mà sinh ra 6 sự nhận biết. Từ đó, 6 sự nhận biết này sinh ra tiếp bảy thứ tình cảm trong bản thể tạo nên sự đa dạng trong phong cách, thái độ cư xử của con người. Bảy loại tình cảm này là móc xích tạo nên sợi xiềng xích khổ đau. Có vui mừng, giận dữ, buồn rầu, vui vẻ, yêu thương, căm ghét và ham muốn là khổ đau. Kinh viết: "Hạnh phúc hôm nay là khởi nguồn cho sự đau khổ ngày sau".  Những thứ ấy, nhà phật gọi là định nghiệp. Định nghiệp được hiểu một cách đơn giản là các thói quen tạo nên bởi ý thức, tư tưởng. Các thói quen tốt, xấu này, vì ta thiếu trí tuệ nhận ra bản chất của chúng, nên bị chúng chiêu cảm và dẫn dắt chúng ta luân hồi sanh tử.  Các thói quen này luôn bị nghiệp lực vây hãm, được tích tụ dưới dạng năng lượng, huân tập và lưu trữ tại 2 bán cầu não.
Thiền sư Huỳnh Bá nói rằng: "thấy cảnh mà sinh tâm tức nhận giặc làm con".  
Khi chết đi, khối năng lượng này sẽ chuyển giao sang ngôi nhà mới là đại não của đời sống kế tiếp. Khoa học đã chứng minh rằng, cả đời người chỉ sử dụng từ 7% đến 10% năng lượng bộ não. Con người chỉ làm việc ở phần vỏ não, còn bên trong tại sao lại tối đen, không hoạt động. Vùng này chính là kho chứa của nghiệp từ tiền kiếp. Chỉ có những người tu chân chính mới vén được màn đen bí ẩn này.
Chúng ta luôn bị đám mây của vọng thức che khuất, tạo nên bức tường vô minh giam giữ tâm chúng ta trong 3 cõi, 6 đường. Ta cứ chạy theo vọng trần tạo ra nghiệp lực dẫn dắt luân hồi. Chỉ có tu tập con người mới thoát khỏi đau khổ của đời sống trần tục. Việc tu tập không phải tìm cầu điều gì cao xa, thần thông diệu dụng mà chính là dùng trí tuệ nhận thức ra đâu là thức mỗi khi vọng khởi, để không bị nghiệp lực lôi kéo. Sáu thức thu về sáu căn, sáu căn thu về một tâm.
Các Bậc Giác ngộ đã từng nói: “Người trí giác tìm cách thoát ly lao ngục, còn người dại chỉ lo tranh giành miếng cơm thừa, canh cặn chốn lao tù”.
Nếu bạn thật sự nhận ra bản chất của nó trong từng suy nghĩ, từng hành động, trong từng thời khắc của sự sống, bạn thâm nhập nó từng sát na trong đời sống của bạn thì bạn đã thành công bước vào cửa đạo. Tâm thức của bạn chắc chắn sẽ được khai mở. Tâm bạn sẽ trở về bản chất thanh tịnh, vắng lặng vốn có của nó. Tâm bạn sẽ được nghỉ ngơi một cách tự nhiên và bạn an trú trong sự tỉnh thức thuần tịnh của tâm.
Một người tu chân chính, sẽ biết dùng những kĩ năng tốt nhất để đưa tâm thức trở về đúng với bản chất của nó. Nhưng bạn phải hiểu rằng pháp cũng chỉ là phương tiện trung gian để chuyển hóa tâm thức bạn đến trạng thái thanh tịnh, thuần khiết của sự tỉnh giác. Kiếp người quá ngắn ngủi chần chờ sẽ không kịp để nhận lại được bổn tâm. Vì sức mỗi người có nghiệp quả khác nhau, không phải ai nghe qua giáo lý cũng quay về với pháp thân thanh tịnh ngay được. Có người vừa nghe đã khai ngộ, có người phải 3 năm, 30 năm, một kiếp, 10 kiếp, hay vô số kiếp tiêu trừ tập khí mới nhận ra điều ấy. Một khi phiền não đã lên đến đỉnh điểm, tâm cảm giác chết hẳn, ý thức nhị nguyên tiêu tan thì người ấy chợt hiển hiện chơn tánh thanh tịnh. Do đó, Chư Phật đã đưa ra các pháp thực hành để ta đẩy nhanh tiến trình nhận thức càng sớm càng tốt. Phật Thích Ca đã khéo léo dùng năng lượng của chính bản thể, kích hoạt tâm thức cho những người căn cơ còn thấp. Phật hướng dẫn pháp Đi kinh hành cho bậc tiểu thừa, vì họ chưa hiểu lý cao nên buộc Phật đưa ra hành sự, chuyển công năng thành trí giác. Cứ y pháp phụng hành, dần dần cũng sẽ chuyển hóa nhận thức của tâm một cách tự nhiên.
Pháp Định niệm hơi thở nhằm mục đích không thu dòng năng lượng trong thế sống hiện tại cất vào kho là 2 bán cầu đại não, trên nguyên tắc lấy hơi thở  làm chủ. Nó ngăn chặn dòng nghiệp từ bên ngoài, không bị nhiễm ô bởi tình thức vì năng lượng bản thể ta luôn cao hơn năng lượng của môi trường xung quanh. Ta ngăn chặn nước dục không tưới cây lục thức, dần dần cây khô héo, khi sáu thức không còn ô nhiễm thì tự tánh dần hé lộ. Mây thức tan biến thì hiển hiện chơn tâm. Khi hé lộ chơn tâm thì nước dục cũng khô cạn. Khi ấy, dù cho gió thức có nổi lên cũng không thể hình thành sóng khổ não.
Đây là cách thu năng lượng về tâm, không cho nó phóng chiếu ra 6 căn. Mà một khi năng lượng của tự tánh đủ mạnh, được khai thông và hòa nhập với năng lượng vũ trụ sẽ là điều kiện không thể thiếu để tâm thức bức phá tường vô minh, đùn vỡ của tâm thức để nhận lại chính mình. Ta là ai? Từ đó, chúng ta mới chấm dứt mọi đau khổ, chấm dứt dòng sinh tử. Và, đời sống của chúng ta mới thật sự bình yên, an lạc sẽ đến từ bên trong tâm thức của bản thể. Đời sống sẽ là một điều ân sủng, thay vì luôn phải tranh đấu khôn nguôi.
Phật Di Lạc đã từng dạy: "thời thời hiện thị nhân, thị nhân hành bất thức". Việc tu tập ta cần đạt đến trạng thái thức thức mà tâm không còn ô nhiễm. Điều đó có nghĩa là ta đã hành theo pháp bất thức của Ngài.
MỜI CÁC BẠN NGHE FILE.