NIỆM PHẬT CHÂN CHÍNH

1. Khái niệm về Phật:
Tôi không mô tả Phật theo khái niệm sách vở một cách máy móc, triết lý mà tôi muốn nói đến sự thực nghiệm, sự giác ngộ, nhận thức được sự tu tập là ta cần làm chủ năng lượng thân tâm như thế nào để được giải thoát. Điều này là một thực nghiệm của mỗi người chứ không phải giáo lý trống rỗng. Mọi sự tu tập đều đi đến mục đích cuối cùng là làm sao chúng ta nhận lại dòng năng lượng tự tánh (kiến tánh) của chính mình; thấy được cái tánh vốn thanh tịnh, vốn tịch diệt từ ngàn xưa. Đó là điều cốt lỗi của đạo mà Chư Phật hay Tổ muốn ta nhận ra.
Hành tinh chúng ta là một ngôi trường học trong vũ trụ. Con người tồn tại một chơn linh (linh thể) dưới dạng năng lượng đến trái đất này để học tập. Con người là tập hợp các chủng thể mà thành. Khi chúng ta tu tập làm cho tập khí mất dần, tình chấp không còn, tham – sân – si hết ô nhiểm thì các chủng thể này cũng tan rã, cái tôi của ta tan biến - mất bản ngã. Ta nhận chân được lõi năng lượng nguyên thủy vốn có của tâm mình. Khi ấy, đời sống của ta là một ân sủng thay vì sự chiến đấu ngôn nguôi. Hằng ngày ta ung dung tự tại trong vạn pháp mà không bị lai động bởi các pháp. Vậy, sao chúng ta phải đến trái đất này để học và học cái gì?
Bản thể ta vốn là dòng năng lượng của vũ trụ bị rớt xuống trái đất này do sự chấn động từ vụ nổ vũ trụ văng ra trôi dạt đến trái đất. Bản thể ta vốn là nguồn năng lượng. Có rất nhiều Bản thể như thế, nhiều vô số.  Nhưng vì vô minh trong quá trình đi tìm đường trở về mà ta quên mất chính mình và bị tham đắm – si mê – ái dục của cõi này giữ ta ở lại.
Khoa học hiện đại cũng đã chứng minh điều đó. GS.TSKH Đoàn Xuân Mượu, nguyên Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung Ương, tác giả cuốn sách "Loài người từ đâu về đâu" cho biết: “Các nhà minh triết phương Đông và khoa học phương Tây đã nghiên cứu về vũ trụ, con người từ thời sơ khai cho đến nay thì đều cho rằng, nó xuất phát từ năng lượng.”
Quá trình tiến hóa là để chúng ta học cách trở về lại nguồn cội, tức hòa nhập lại năng lượng của vũ trụ từ ngàn xưa. Nhưng do vô minh che lắp trong u mê, ta không thể nhận thức ra nên phải trôi lăn trong sinh tử luân hồi.  Vì thế, Chư Phật thấy chúng ta loay hoay mãi mà vẫn không về được nên cho 5 vị xuống trái đất này dạy cách để con người tu tập trở về.
Đầu tiên, có vị thầy thứ nhất là Phật Câu Lưu giáo hóa, có rất nhiều học trò đạt giáo ngộ và trở về. Đến vị thầy thứ 2 là Phật Câu Na Hàm Mâu Ni xuống dạy cách trở về và cũng có rất nhiều vị đạt giác ngộ. Vị thầy thứ 3 là Phật Ca Diếp ở Châu Phi, thời ấy Châu Phi vô cùng Thịnh Vượng, có thể nói là nền văn minh bậc nhất thời đó. Giáo lý của Ngài dạy con người tu tập lấy thân làm pháp, và cũng có rất nhiều vị giác ngộ. Vị thầy thứ 4 là Phật Thích Ca Mâu Ni ở Ấn Độ, giáo lý của Ngài dạy buông bỏ thân tâm. Vị thầy cuối cùng là Phật Di Lạc, từ vị Bồ Tát Di Lạc tu Thức Đại mà thành Phật Di Lạc. Cốt lõi là Ngài lấy pháp Nhĩ Căn xóa thức để trở thành bất thức; Ngài là vị thầy tổng hợp các pháp của các vị thầy trước và đưa ra một hệ thống tu tập từ tiểu thừa đến tối thượng thừa dựa trên nguyên lý năng lượng.  
Phật chính là vị thầy hướng dẫn chúng sanh cách tu tập để trở về nguồn cội. Một vị Phật chỉ làm việc trong một nhiệm kỳ nhất định. Chẳng hạn như một người thầy giáo chỉ dạy đến 60 tuổi thì về hưu. Ta muốn học, phải học ở vị thầy còn đang đương nhiệm. Cũng như vậy, muốn đạt giác ngộ giải thoát, phải sinh ra và tu tập dưới sự chỉ dẫn trong thời kỳ một Đức Phật còn là Giáo chủ và nắm quyền tam ấn trong tam giới. Trong từng giai đoạn của từng vị Phật, con người đã tiến hóa đến đẳng cấp tâm linh mới nên cũng cần có cách tu tập cho phù hợp.
2. Niệm Phật Chân Chính:
“Niệm” là tưởng nhớ, “Phật” là sự thức tỉnh với nguồn năng lượng bản thể. Niệm Phật tức là ta thấy lại bản thể của chính ta, nhận lại dòng năng lượng của chính mình từ vô thủy. Muốn làm được điều đó phải có một vị thầy tại thế ấn chứng để ta thấy lại dòng năng lượng này, dòng năng lượng này còn gọi là Linh Quang hay năng lượng Vô Lượng Quang hay còn gọi là ánh sáng Chư Phật.
Nam Mô A Di Đà Phật”; từ “Nam Mô” có nghĩa là làm theo, nương theo; “A Di Đà” là Linh Quang điển; “Phật” là trạng thái tỉnh thức. Niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” là nương theo Linh Quang trong trạng thái thức tỉnh. Một trạng thái tâm không có ý niệm vọng khởi mà mọi thứ đều rõ ràng, sáng suốt, hay còn gọi là vô niệm trong trạng thái ánh sáng.
Trạng thái “Nam Mô A Di Đà” là trạng thái đỉnh cao của sự tu tập. Khi một hành giả đạt được trạng thái này trong tu tập chắc chắn sự giải thoát đã đạt được ngay khi còn sống chứ không phải đợi đến ngày nhắm mắt mới cầu lực lượng A Di Đà để được giải thoát.
Để đạt được sự tỉnh thức trong trạng thái A Di Đà, ta cần có một sức khỏe tốt, phải ngăn nghiệp từ bên ngoài, xóa nội nghiệp bên trong. Để làm được điều này, bằng cách tập Dịch Cân Kinh để kích hoạt lại dòng sinh lực; đi Định Niệm Hơi Thở để ngăn nghiệp bên ngoài; quay Thân Hành Niệm để xóa nghiệp bên trong. Điều quan trọng là phải có sự ấn chứng của một vị Thầy cho ta thấy lại cái lõi năng lượng ánh sáng của bản thể. Từ đó, ta mới niệm Phật đúng với pháp mà Chư Phật truyền dạy. Lúc đó, ta hiểu con đường trở về đất Phật là như thế nào? Vấn đề còn lại là thời gian ta thực hành để đạt đến trạng thái A Di Đà. Và điều này, khi một người đã được ấn chứng lực lượng A Di Đà hoàn toàn có thể tu tập đạt trạng thái A Di Đà ngay trong kiếp hiện tại. Sự giải thoát ngay ở hiện tiền chứ không phải lời hứa huyễn mộng, hư ảo khi chết sẽ có A Di Đà đến rước.
Năng lượng không tự sinh ra và cũng không tự mất đi mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác”. Khi còn sống ta câu thông với năng lượng nào thì khi chết ta sẽ trở về với năng lượng ấy.
Một người muốn tốt nghiệp Đại học phải học từ lớp 1 đến hết năm thứ 4 của Đại học. Còn một người nói không cần học mà chỉ cần niệm: bằng Đại học, bằng Đại học, bằng Đại học… thì thế nào đến năm 24 tuổi cũng có bằng đại học. Một người cha không bao giờ dạy con mình như thế. Người cha chân chính sẽ chu cấp tiền bạc, vật chất, hướng dẫn con mình học tập; người con phải đi học và tự mình lấy bằng Đại học. Người cha không thể học thế cho con mình. Người cha chỉ có thể cho con mình xem trước bằng Đại học để khích lệ tinh thần học tập của con.
Trong đạo Phật cũng vậy, “ai ăn nấy no, ai tu nấy chứng”. Không có chuyện không tu mà đạt được giải thoát. Chư Phật sẽ trợ giúp bằng cách ấn chứng cho ta xem lại năng lượng ánh sáng của bản thể, chỉnh lại hệ thống các luân xa trong cơ thể để chúng hoạt động trở lại, vạch ra các pháp tu tập để ta xác định đúng hướng trở về nhà.
Người tu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” cần có lực lượng Vô Lượng Quang để thức tỉnh trong trạng thái ánh sáng đó. Khi vị thầy ấn chứng cho thấy dòng năng lượng Vô Lượng Quang ta tập trung cao độ “niệm tưởng” để đạt trạng thái ánh sáng như thế. Niệm với trạng thái tâm thức tỉnh kéo dài nhờ nương theo lực lượng A Di Đà. Dần dần, người tu đi đến cảnh giới vô niệm trong năng lượng ánh sáng hay còn gọi là nhập định. Khi đó, ta chính là nguồn năng lượng chứ không còn là đối tượng của năng lượng. Cảnh giới này ban đầu ta còn ý thức để nhận thức ta và ánh sáng, khi ta hòa nhập vào dòng ánh sáng thì ta chính là ánh sáng, ánh sáng chính là ta; ta và ánh sáng là một, không còn có khách thể, chủ thể để tìm cầu. Khi đó, ta chính là A Di Đà và thấy ngay hiện tiền ta đã giải thoát. Phật Thích Ca nói rằng đó là ngọn đèn (Nhiên Đăng) và Ngài truyền pháp trong 49 năm cũng chỉ có một mục đích là mồi lại ngọn đèn đã tắt cho chúng sanh. “Các con tự thắp đuốc lên mà đi” có nghĩa là sau khi ngọn đèn đã được mồi. Thế hệ đời sau không hiểu cứ cho là ta có thể tự cầm đuốc mà đi, trong khi không có ngọn đèn mồi đuốc, thì đi về đâu?
·        Các đẳng cấp niệm Phật:
-     Đẳng cấp 1: Niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” đọc bằng miệng:
Đẳng cấp này rất cơ bản, nhằm duy trì nền tảng cốt lõi phật pháp mà Chư Phật hay các Tổ hướng đến đối tượng có căn cơ thấp. Họ chưa thể xâm nhập kinh tạng do trí tuệ còn thấp.
Nhưng đọc “Nam Mô A Di Đà Phật” như thế lâu dần cũng có công năng để ghi nhớ vào tàng thức – a-lại-da-thức, kiếp sau tăng trưởng trí tuệ tìm cầu phật pháp. Hoặc khi đọc “Nam Mô A Di Đà Phật” cũng chứng tỏ rằng người này đang cần nương theo Linh Quang điển, khi có duyên cũng gặp được vị thầy ấn chứng mồi lại ngọn đèn mà tu giải thoát.
Khi niệm bằng miệng là ta dùng một ý niệm để đè vọng niệm cho nó không phát khởi. Lấy con sóng sau đè con sóng trước thì tâm vẫn đầy sóng. Nếu không hiểu, vọng niệm bị đè đó thì lâu ngày trở nên bực dọc, cáu gắt, tức tối, sân hận phát triển. Tam độc chưa thể chuyển thành giới định tuệ. 
Khi chưa có vị Minh Sư xuất thế, đọc “Nam Mô A Di Đà Phật” như cắm một chiếc cọc trên dòng sông để khỏi bị cuốn trôi theo dòng nước sanh tử, đợi vị Minh Sư xuống cứu. Đọc “Nam Mô A Di Đà Phật” như cầm trên tay công thức trồng lúa, nhưng không đi vào thực nghiệm trồng lúa thì không bao giờ có cơm mà ăn, cứ xin ăn từng ngày.
-     Đẳng cấp 2: Niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” bằng Tâm niệm:
Đẳng cấp này dành cho bậc đại thừa đến thượng thượng thừa. Do trí tuệ họ phát triển nên có thể xâm nhập kinh tạng, hiểu được giáo lý nhà Phật, thông suốt các kinh điển và có một tư duy logic. Tự tu, tự hành, tự thành phật đạo. Đẳng cấp này được chia làm 2 thành phần:
Thành phần thứ nhất: Hành giả tự nghiên cứu giáo lý, cách tu rồi thực hành theo. Với các hành giả này, họ tự tìm tòi cách trồng lúa trên mảnh đất tâm của mình, không có thầy hướng dẫn. Họ phải trải qua rất nhiều kiếp trồng đi trồng lại vì chưa có kinh nghiệm. Và khi thu hoạch, Chư Phật thấy lúa thì cho vào kho lẫm, cỏ thì cho vô lửa. Việc tu tập phải đến vô số kiếp mới giác ngộ trở về đất Phật.
Thành phần thứ hai: Hành giả được sự ấn chứng lực lượng A Di Đà và tu tập với sự hướng dẫn của một vị thầy còn tại thế. Nhà Phật có câu: “Dù cho bóng đêm ngự trị muôn ức ức năm, khi ánh sáng đến ắt bóng tối phải tan”. Với các hành giả này, họ cũng tự trồng lúa trên mảnh đất tâm của mình nhưng khác ở chỗ là có thầy gieo giống và hướng dẫn qua từng giai đoạn nên khả năng có lúa và được Chư Phật cho vào kho lẫm là ngay kiếp người.
Đây là cách mà 4 vị Phật trước đã dạy và truyền pháp: bằng cách làm khô nước trong hồ Tâm thì cho dù có gió thức nổi lên cũng không thể nào tạo ra được cơn sóng. Đây mới thực sự là bình yên. Bình yên lan tỏa từ bên trong nội thể. Suy luận đầu óc, ngôn ngữ không thể diễn tả đúng bản chất thực của nó.
Niệm “A Di Đà Phật” khi tâm ta hòa nhập vào Ánh Sáng A Di Đà là cảnh giới cao nhất của sự tu tập. Khi còn sống mà ta đã hòa nhập được với lực lượng A Di Đà thì khi chết chắc chắn sẽ được giải thoát. Đó là kết quả của mọi pháp tu tập giải thoát.
 Chân lý đi trước thời đại luôn khó đi vào lòng người. Đến khi Minh Sư không còn thì người lại đem giáo lý ra mà ca tụng.